Tin tức

Tìm hiểu về thiết bị nhìn đêm (Night Vision Devices) qua các thế hệ Gen 0, Gen 1, Gen 2, Gen 3

Tìm hiểu về thiết bị nhìn đêm (Night Vision Devices) qua các thế hệ Gen 0, Gen 1, Gen 2, Gen 3

September 09, 2020

Thiết bị nhìn ban đêm (NVD – Night Vision Devices), còn được gọi là thiết bị quan sát/quang học ban đêm (NOD) và kính nhìn ban đêm (NVG), là một thiết bị quang điện tử quan sát được trong đêm khi có ánh sáng yếu hoặc khi không có ánh sáng.

 Nguyên lý cấu tạo cơ bản của các thiết bị nhìn đêm (ống nhòm đêm)

Các thiết bị NVG dựa trên cơ sở khuyếch đại ánh sáng yếu và các thiết bị này được thiết kế trên cơ sở kỹ thuật quang – điện tử.

Ánh sáng nhìn thấy và tia hồng ngoại trong quang phổ điện từ
Ánh sáng nhìn thấy và tia hồng ngoại trong quang phổ điện từ

Ta  biết  mắt  người  nhìn  được  trong  phổ  ánh  sáng  trắng,  có  bước  sóng  từ  700nm  (nanomét)  đến 350nm  tức  là  ánh  sáng  đỏ  đến  tím,  từ  cực  tím  (cực  ngắn)  đến  phổ  hồng  ngoại  bước  sóng  2500nm thì mắt người không nhận biết được.

NVD  thường  dùng  các  phân  tử  quang  điện  nhạy  cảm  trong  vùng  cận  hồng  ngoại,  để  đối  phương không quan sát được bằng mắt thường.

CẤU TẠO CƠ BẢN ỐNG NHÒM ĐÊM THẾ HỆ GEN 0 – GEN 1 

Cấu tạo ống nhòm đêm Gen 0, Gen 1

Trên hình ta thấy NVD gồm ống chân không có vật kính để nhận ánh sáng phổ hồng ngoại

  • Photocathode (bằng vật liệu quang điện hợp kim của nhóm kim loại kềm Ea As: Cs, In Ea As: Cs, Sb: Cs..v.v..) được nối cao áp âm để thực hiện hiệu ứng quang điện.
  • A nốt phụ để tăng tốc cho electron và làm thấu kính điện tử.
  • Màn huỳnh quang (phosphor screen) chế tạo bằng muối photpho kẽm phủ lên miếng thủy tinh thạch anh để phát sáng khi hạt điện tử (electron) bay đến đập vào.
  • Thị kính: Do điểm sáng rất bé, tập hợp chúng thành ảnh cũng rất nhỏ muốn quan sát chúng phải có khuyếch đại quang học nên thị kính sẽ làm việc phóng to ảnh trên màn huỳnh quang.

Nguyên lý hoạt động:

Khi chùm tia hồng ngoại từ đối tượng cần quan sát phản xạ tới đi qua vật kính chiếu vào tấm photocathode, trên tấm photocathode xảy ra hiệu ứng quang điện, các electron được bứt ra khỏi photocathode, số lượng E tỷ lệ vào cường độ tia hồng ngoại phản chiếu từ đối tượng quan sát tới. Nhờ thấu kính điện tử các electron được gia tốc và hội tụ trên màn huỳnh quang. Trên màn huỳnh quang xảy ra hiện tượng điện – quang. Năng lượng E của electron lớn hơn năng lượng thoát ra của các photon sẽ làm màn huỳnh quang phát sáng, qua thị kính ta nhìn thấy ảnh của đối tượng cần quan sát dưới ánh sáng đơn sắc của màn huỳnh quang (thường là màu xanh lá cây, xanh – vàng, vàng hay trắng – tối).

Ta sẽ xem ở các đời thế hệ sau như Gen 2, Gen 3.

Sự phát triển của NVD:

Thời kỳ đầu Gen 0 phát triển trong chiến tranh Triều Tiên, sau đó đến thế hệ Gen 1 được quân đội Mỹ ứng dựng nhiều trong chiến tranh Việt Nam, những chiếc NVD Gen 1 quân sự thụ động dùng cho súng bắn tỉa và quan sát trên máy bay C130 để tìm và tiêu diệt xe vận tải trong đêm.

Nhược điểm là thiết bị NVD thế hệ này to lớn, khuyếch đại ánh sáng chỉ độ vài nghìn lần, tuổi thọ kém do phải dùng cao áp lớn từ 1,5 : 2,5 kv nên nhanh già hóa tấm huỳnh quang.

Do phải dùng bộ tăng áp nên khi bật khởi động ban đầu có tiếng rít nhẹ của bộ tăng áp, màn huỳnh quang có độ hư duy lớn (khi tắt điện vẫn sáng xanh một lúc), độ méo ảnh ở mép kính lớn và bị quáng sáng khi chiếu vào nguồn sáng có cường độ sáng lớn như đèn đô thị.

Thế hệ Gen 1 sau này đã cải thiện hơn, độ nhậy sáng hồng ngoại cao hơn và các bộ cao áp, tăng áp đã nhỏ gọn hơn. Nguồn chiếu hồng ngoại chủ động đã dùng Led hồng ngoại bổ trợ nên nhìn đã rõ hơn và gọn hơn.

Phạm vi hữu ích tối đa là khoảng 75 m tùy thuộc môi trường ban đêm. Một thiết bị Gen 3 tốt có khả năng đi vài trăm mét ngay cả trong điều kiện ánh sáng yếu hơn.

Những đặc điểm cơ bản của thế hệ Gen 1:

  • Hình ảnh độ phân giải thấp hơn, tĩnh/nhiễu hơn trong hình ảnh, không sáng.
  • Khả năng hoạt động “thụ động” – Thế hệ 1 dựa vào đèn chiếu sáng hồng ngoại tích hợp luôn bật, khiến người dùng rất dễ nhìn thấy với bất kỳ ai sử dụng thiết bị nhìn ban đêm khác.
  • Trường nhìn nhỏ hơn do hình ảnh bị méo ở ngoài một phần ba trường xem.
  • Tuổi thọ pin ngắn hơn.
  • Dễ bị “nở” hơn – tức là hình ảnh bị biến dạng do ánh sáng quá nhiều.
  • Gen 1 ống nhòm không có tính linh hoạt như các thế hệ cao hơn. Ví dụ: thích ứng với phạm vi súng trường, phạm vi phát hiện và khả năng gắn vũ khí.
  • Tuổi thọ Gen 1ngắn: khoảng 1500 giờ

THIẾT BỊ  NHÌN ĐÊM (NVD) GEN 2

Những nhược điểm của Gen 1 đã được khắc phục trong những cải tiến của NVD đời sau.

Gen 2 cấu tạo cơ bản của ống nhìn đêm (NVD) trên cơ sở của NVD Gen 1 nhưng đã được cải tiến nhờ tấm vi kênh dựa trên cơ sở phát xạ thứ cấp theo hiệu ứng thác lũ electron của tấm vi kênh.

NVD Gen 2 và tấm vi kênh
NVD Gen 2 và tấm vi kênh

Hoạt động của tấm vi kênh:

Khi tia hồng ngoại qua vật kính đập vào photocathode và hiệu ứng quang – điện xảy ra các điện tử bứt ra khỏi tấm photocathode được gia tốc bay đến tấm vi kênh khi đập vào tấm vi kênh (nhân electron) sẽ phát xạ thứ cấp theo hiệu ứng thác lũ mỗi ống vi kênh sẽ bứt ra nhiều electron hơn electron sơ cấp đập vào nên ta có mật độ electron cao hơn nhiều (hiệu ứng nhân quang điện).

Luồng electron đã được tăng cường mật độ được gia tốc bay về phía màn huỳnh quang đập vào màu và phát sáng rõ nét hơn do đó qua kính phóng đại và thị kính ta nhìn thấy ảnh rõ nét hơn và sáng hơn.

Gen 2 là một bước tiến vượt bậc so với thiết bị thế hệ 1, một thiết bị Gen 2 tốt gần với hiệu suất Gen 3, hơn nhiều so với hiệu suất Gen 1. Tuy nhiên, có các mức chất lượng khác nhau của thế hệ thứ 2 vì những cải tiến chính so với Gen 1 như sau:

  •  Phạm vi quan sát dài hơn, trong khu vực 200 m tùy thuộc vào kiểu máy.
  •  Độ phân giải tốt hơn, hình ảnh sạch hơn, sáng hơn.
  • Khả năng hoạt động “thụ động” mà không cần sự chiếu sáng của IR.
  • Trường nhìn đầy đủ – không có hình ảnh bị méo ở bên ngoài một 1/3
  • Tuổi thọ pin lâu hơn
  • Không dễ bị “nở” hoặc méo ảnh do ánh sáng khi so sánh với Gen 1.
  • Gen 2 ống nhòm có tính linh hoạt cao hơn do tăng độ bền và khả năng thích ứng.
  • Tuổi thọ cao hơn 3 lần so với Gen 1 và độ tin cậy tốt hơn.
  • Tuổi thọ Gen 2: khoảng 5000 giờ

THIẾT BỊ NHÌN ĐÊM (NVD) GEN 3:

So với NVD Gen 1 và NVD Gen 2 thì NVD Gen 3 mang thêm nhiều ưu điểm mới, hỗ trợ tốt hơn cho người dùng, chính vì lý do đó mà các thiết bị nhìn đêm Gen 3 hiện đang là thế hệ được nhiều lực lượng quân đội  Hoa Kỳ và lực lượng đặc nhiệm nhiều nước khác đang sử dụng; nó được coi là tiêu chuẩn vàng trong công nghệ quang học nhìn đêm.

Tương tự như NVD Gen 2 những vật liệu làm photocathode được chế tạo bằng vật liệu bán dẫn Ga As (Gali-asen) nhậy quang ở vùng cận hồng ngoại (NIR) và có thêm màng chắn ion.

Ta biết ống chân không, không thể chân không tuyệt đối cũng như vật liệu bức xạ của photocathode nên sẽ phát sinh các ion khi được gia tốc, do đó sẽ giảm tuổi thọ của màu huỳnh quang (mờ dần theo thời gian sử dụng). Khi có thêm màng chắn ion tuổi thọ của màu huỳnh quang sẽ tăng lên đáng kể.

Thêm vào đó NVD Gen 3 cho phép điều chỉnh điện áp tăng áp để thay đổi độ sáng nhìn cho phù hợp với mắt người quan sát, với mạch điện tử điều khiển bộ tự điều khuếch sẽ giảm hiện tượng quáng sáng khi bị nguồn sáng bức xạ lớn đột ngột chiếu vào thiết bị NVD. Thiết bị có thêm màng chắn cũng làm mật độ điện tử sẽ làm giảm độ sáng và biến dạng nhẹ hình ảnh ở một số NVD thế hệ 3.

Độ hư duy thấp nên khi đối tượng quan sát chuyển động nhanh không bị hiện tượng bóng mờ kéo theo khi quan sát.  Dùng vật liệu phát quang xanh – vàng và photpho trắng để cảm nhận vật thể xung quanh.

Gen 3 Autogated là thế hệ mà quân đội và lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ đang sử dụng và nó hiện là tiêu chuẩn vàng trong công nghệ. Có một số cấp độ của Gen 3, tuy nhiên chúng đều rất nổi bật. Các sản phẩm Gen 3ST rất tốt, cung cấp hiệu suất tuyệt vời, Gen 3P và Gen 3AG hình ảnh tự động cung cấp hiệu suất vượt trội hơn nhiều trong các khu vực có nhiều ánh sáng như môi trường đô thị hoặc bất cứ khi nào có ánh sáng nhân tạo, chẳng hạn như đèn xe, đèn pin, đèn chiếu sáng, v.v…

Sau đây là những ưu điểm của NVD Gen 3:

  • Phạm vi quan sát dài, quan sát tốt nhất trong phạm vi khoảng 300 m tùy thuộc vào kiểu máy và điều kiện môi trường.
  • Độ phân giải tốt nhất, hình ảnh sạch và sáng nhất.
  • Một số ống cấp độ ưu tú dành cho HS (chọn bằng tay) có sẵn
  • Hiệu suất trong ánh sáng yếu tốt nhất
  • Khả năng lớn hơn cho hoạt động hoàn toàn “thụ động” – hoạt động mà không cần sử dụng đèn chiếu sáng hồng ngoại/hoạt động bí mật.
  • Ống hình ảnh Gen 3 được đánh giá cao cho phép hoạt động trong mọi điều kiện ánh sáng. Giảm đáng kể tình trạng “nở hoa”.
  • Tính linh hoạt cao nhất do hiệu suất tốt hơn khi sử dụng với ống kính phóng đại, phạm vi, bộ điều hợp máy ảnh và các phụ kiện nhìn ban đêm khác.
  • Tuổi thọ lâu nhất hơn 10.000 giờ với độ tin cậy/độ bền tốt nhất.
  • Đặc biệt chỉ với 1 -2 pin AA thời gian sử dụng của ống kính Gen3 lên tới 40-60 h tùy từng mẫu ống kính.

Thông số kỹ thuật chính tiêu biểu của các mẫu NVG từ thế hệ 2, 3 và 4

Các ống tiêu chuẩn ATNs thế hệ thứ 2 IIT có chất lượng cao với độ sáng và độ phân giải vượt trội. Mỗi ống có một tấm kênh vi mô, photocathode đa kiềm với nguồn điện tích hợp.

Tính năng IIT thế hệ thứ 2:

  • Loại ảnh cathode: Multi-Alkali (hỗn hợp kim loại kềm) độ phân giải từ 40 đến 45 lp/mm
  • Tỷ lệ tín hiệu trên tiếng ồn từ 12 đến 20 t/r (tín hiệu trên nhiễu photon)
  • Tuổi thọ ống hơn 5.000 giờ
  • CGT IIT Loại ống tăng cường hình ảnh CGT được thiết kế để nâng cao hiệu suất đáng kể so với thếhệ IIT thứ 2 hiện tại. CGT IIT là bộ tăng cường hình ảnh MCP định dạng 18mm hỗn hợp kim loại kềm nhỏ gọn Điểm nổi bật của các thông số kỹ thuật CGT là SNR điển hình là 16-22 và độ phân giải 45-54 lp/mm. CGT IIT rất nhạy trong dải quang phổ rộng và do đó cung cấp độ tương phản tốt trong mọi trường hợp cảnh.

Các tính năng của CGT IIT:

  • Loại ảnh cathode: Multi-Alkali
  • Độ phân giải từ 45 đến 54 lp/mm
  • Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu photon từ 16 đến 22
  • Tuổi thọ ống 10.000 giờ

Ống HPT IIT HPT là bản nâng cấp của ống thế hệ CGT. Chúng là một bộ tăng cường hình ảnh MCP định dạng 18mm hỗn hợp kim loại kềm nhỏ gọn. Ống HPT tăng độ nhạy, độ phân giải, tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu (SNR) và chức năng truyền điều chế (MTF). Những cải tiến này tạo ra hình ảnh rõ nét và độ sáng vượt trội. Hầu hết các thông số kỹ thuật HPT thường tương đương với thế hệ thứ 3 tiêu chuẩn cho quân đội Hoa Kỳ.

Các tính năng của HPT IIT:

  • Loại ảnh cathode: Multi-Alkali
  • Độ phân giải từ 55 đến 72 lp/mm
  • Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu photon từ 16 đến 24
  • Tuổi thọ ống 10.000 giờ

NVD thế hệ thứ 3 bằng cách thêm một hóa chất nhạy cảm, arsenide gali vào photocathode, một hình ảnh sáng hơn và sắc nét hơn đã đạt được so với các đơn vị thế hệ thứ 2. Một màng chắn ion cũng được thêm vào để tăng tuổi thọ của ống. Thế hệ thứ 3 cung cấp cho người dùng hiệu suất ánh sáng yếu từ tốt đến xuất sắc.

Tiêu chuẩn IIT thế hệ thứ 3 các ống tăng cường hình ảnh thế hệ thứ 3 tiêu chuẩn chất lượng cao nhất. Chúng có một tấm kênh vi mô, photocathode GaAs và một nguồn điện cao áp tích hợp hoàn toàn độc lập. Các ống thế hệ thứ 3 này cung cấp sự gia tăng kết hợp giữa độ phân giải, tín hiệu với tiếng ồn và độ nhạy sáng so với các ống có photocathode hỗn hợp kim loại kiềm. Thế hệ 3 là tiêu chuẩn cho quân đội Hoa Kỳ.

Các tính năng IIT tiêu chuẩn thế hệ thứ 3:

  • Loại ảnh cathode: Gali Arsenide
  • Độ phân giải 64 lp/mm
  • Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu photon 22 điển hình
  • Tuổi thọ ống 10.000 giờ

Thế hệ 3A lựa chọn cao cấp IIT IIT chọn lọc cao cấp thế hệ 3A là chất lượng cao nhất trong các IIT thế hệ 3. Những IIT này được chọn lọc thủ công để cung cấp chất lượng và thông số kỹ thuật cao nhất có sẵn trong dòng Gen 3. Chúng có một tấm kênh vi mô, photocathode GaAs và một nguồn điện cao áp tích hợp hoàn toàn độc lập.

Các tính năng IIT chọn lọc cao cấp của thế hệ 3A:

  • Loại ảnh cathode: GaAs phim mỏng
  • Độ phân giải từ 64 đến 72 lp/mm
  • Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu photon 26 điển hình
  • Tuổi thọ ống 10.000 giờ

THẾ HỆ THỨ 4:

Ống tăng cường hình ảnh đảo ngược tự động/không phim cải thiện hiệu quả hoạt động ban đêm cho người dùng kính nhìn ban đêm và các thiết bị nhìn ban đêm khác. Tấm vi kênh không có màng cung cấp tỷ lệ nhiễu tín hiệu cao hơn so với tiêu chuẩn IIT thế hệ thứ 3, dẫn đến chất lượng hình ảnh tốt hơn trong điều kiện ánh sáng yếu. Nguồn cung cấp tự động cải thiện hơn nữa độ phân giải hình ảnh trong điều kiện ánh sáng cao và giảm hiệu ứng vầng hào quang giúp giảm thiểu nhiễu từ các nguồn sáng. Quầng sáng giảm tối đa hóa hiệu quả của thiết bị thiết bị nhìn đêm trong điều kiện ánh sáng động, chẳng hạn như trong các hoạt động ban đêm ở khu vực đô thị.

Các tính năng của thế hệ thứ 4 IIT:

  • Loại ảnh Cathode: không phim GaAs
  • Độ phân giải từ 64 đến 72 lp/mm
  • Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu photon từ 25 đến 30
  • Nguồn cung cấp tự động

Tuổi thọ ống 10.000 giờ với sự cải thiện đáng kể về mức độ tương phản và hiệu suất dưới mọi điều kiện ánh sáng, các loại thiết bị nhìn ban đêm thế hệ thứ 4 đại diện cho hiệu suất hàng đầu trong thị trường nhìn ban đêm.

Nhưng thế hệ Gen 4 thực tế có một vấn đề phức tạp vì về mặt kỹ thuật không thực sự có phân loại Gen 4, theo Quân đội Mỹ . Khi nó được giới thiệu lần đầu, quân đội Mỹ đã công nhận phân loại công nghệ Gen 4. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra độ tin cậy và tuổi thọ của Gen 4. Lục quân Mỹ đã xác định rằng công nghệ này không đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của họ và do đó đã rút lại định nghĩa Gen 4. Giờ đây, một số công ty sử dụng thuật ngữ ‘Thế hệ thứ 4’ như một mưu đồ tiếp thị để nói lên hình ảnh tốt nhất của nó. Vậy điều này có ý nghĩa gì đối với một người đang tìm kiếm thiết bị tốt nhất mà họ có thể nhận được?

Có một công nghệ mới tương tự như Gen 4, nó được gọi là ‘Unfilmed’ hoặc ‘Filmless Gen 3’. Đây là thứ mà quân đội đang sử dụng rất nhiều hiện nay và vẫn được phân loại là Gen 3, nhưng nó có cùng tính năng Filmless và hiệu suất tốt hơn của Gen 4, với độ tin cậy của Gen 3.

Ngoài ra nhà sản xuất còn cải tiến trên bộ tăng cường hình ảnh NVD thế hệ 2 và thế hệ 3. Kể từ khi thiết bị Gen 2 và 3 được giới thiệu, các thông số kỹ thuật và khả năng công nghệ của thiết bị đã đạt được nhiều tiến bộ. Ví dụ, các nhà sản xuất đã phát triển các sản phẩm dựa trên công nghệ Gen 2, nhưng rõ ràng hơn là gần với Gen 3. Chúng đôi khi được tiếp thị là Gen 2+.

Đối với Gen 3, nhiều cải tiến đã được thúc đẩy bởi việc mua sắm quân sự được thực hiện vài năm một lần. Các sản phẩm này được gọi là Omnibus hoặc OMNI, chứa các thông số kỹ thuật ngày càng tăng dần cho công nghệ. Một số nhà cung cấp sử dụng số OMNI, ở dạng số la mã, để biểu thị bộ thông số kỹ thuật nào mà thiết bị tuân thủ. Các nhà cung cấp khác phân loại các sản phẩm này là Gen 3+, điều này cho thấy rằng các thông số kỹ thuật vượt quá thông số kỹ thuật Gen 3 ban đầu, nhưng không tuân thủ bất kỳ số OMNI cụ thể nào. Một số sản phẩm được bán trên thị trường là Gen 4, có thể là một tiến bộ trên Gen 3 hoặc dựa trên các thông số kỹ thuật của Gen 4 đã tồn tại trong một thời gian ngắn trước khi bị quân đội Mỹ xóa bỏ.

Thiết bị nhìn ban đêm Phosphor trắng

Một trong những tiến bộ trong tầm nhìn ban đêm là công nghệ phosphor trắng. Công nghệ này tạo ra một màn hình thang độ xám, được tạo ra bởi một thiết bị phosphor trắng có thể quen thuộc hơn với mắt người, thiết bị này cảm nhận một cách tự nhiên cảnh vật thiếu sáng có màu xám. Các thiết bị phosphor trắng, sử dụng công nghệ Gen 2+, không có khả năng hoạt động trong điều kiện ánh sáng cực thấp của Gen3.

Phosphor trắng không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng nở (tức là mất hình ảnh do các nguồn sáng bổ sung), điều này rất hữu ích cho môi trường đô thị. Trong một số ứng dụng, một kính cường lực một mặt có thể được sử dụng với một mắt, trong khi mắt còn lại vẫn mở để cung cấp cho người dùng một số cảm nhận về màu sắc.

Công nghệ mới

Nhiều công nghệ đang được phát triển và có thể ra mắt trong tương lai gần. Chúng bao gồm:

  • Công nghệ nano chấm lượng tử, có thể thích ứng với máy ảnh nhiệt, có thể nâng cao độ nhạy đối với bức xạ hồng ngoại trong phạm vi 8.000 đến 12.000 nm. Tuy nhiên, chi phí cao của công nghệ và thiếu các chấm lượng tử nhất quán đã cản trở việc sử dụng nó tại thời điểm này.
  • Công nghệ tầm nhìn toàn cảnh, cho phép người dùng có FOV rộng hơn. Các phiên bản sử dụng bốn ống (GPNVG-18) đã được sử dụng trong hàng không quân sự.
  • Công nghệ CMOS độ nhạy cao, giúp tăng diện tích bề mặt điểm ảnh, cho phép quay video trong điều kiện ánh sáng yếu. Sự phát triển này cũng làm giảm nhiễu thường tăng theo kích thước pixel.

ỨNG DỤNG

Thiết bị NVD có thể được áp dụng cho các nhiệm vụ liên quan đến thực thi pháp luật, nhiệm vụ quân sự, tuần tra, trinh sát, xâm nhập … giám sát tài nguyên thiên nhiên, cứu hỏa và cứu hộ, kỹ thuật, y tế và an ninh.

Ứng dụng thực thi pháp luật

NVD là công cụ hữu ích trong các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn, giám sát, bắt giữ, pháp y, phản ứng với chất nguy hiểm, theo dõi và điều hướng. Các thiết bị NVD thể cung cấp hình ảnh chất lượng cao bằng cách sử dụng mức độ ánh sáng xung quanh rất thấp. Những thiết bị này cũng được sử dụng trong giám sát bí mật, khi ngoại hình và đặc điểm khuôn mặt của một cá nhân phải được xem xét để xác định cá nhân đó. INVD giúp phát hiện các chi tiết mà máy ảnh nhiệt không thể chụp được.

Ví dụ: Máy ảnh nhiệt có thể hiển thị vũ khí nào trong nhóm vũ khí đã được bắn gần đây, trong khi thiết bị NVD có thể cho phép người dùng xác định loại vũ khí, NVD phát hiện chi tiết chính xác, phân biệt khí tài, phương tiện, quân tư trang, nhận dạng phân biệt quân nhân trong chiến trường… Thiết bị NVD cũng rất hữu ích trong môi trường mà người dùng ảnh nhiệt sẽ gặp khó khăn trong việc phân biệt các đối tượng.

Tác giả: Nguyễn Mạnh Hiếu – Phó Trưởng phòng kinh doanh HTI

Share