Tin tức

Làm chủ công nghệ UAV là làm chủ không gian phát triển mới của Việt Nam

Làm chủ công nghệ UAV là làm chủ không gian phát triển mới của Việt Nam

May 18, 2026

This post is also available in: English (English)

Làm chủ công nghệ máy bay không người lái (UAV) chính là tự chủ không gian, tự chủ về năng lực quốc phòng, gắn với tinh thần tự lực, tự cường của đất nước. Các quốc gia trên thế giới đang đi rất nhanh, rất quyết liệt, nếu Việt Nam chậm chân, nguy cơ tụt hậu trong lĩnh vực này là rất rõ ràng.

Trò chuyện với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Sỹ Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Đầu tư và Công nghệ HTI (HTI Group), nhấn mạnh kinh tế tầm thấp là một hệ sinh thái mới, với tiềm năng rất lớn, có tác động lan tỏa để tạo động lực tăng trưởng cho nhiều lĩnh vực, từ nông nghiệp, logistics đến an ninh, quốc phòng, nhưng để phát triển cần thời gian, chính sách rõ ràng và sự tham gia đồng bộ của nhiều doanh nghiệp.

HỆ SINH THÁI KINH TẾ MỚI

[PV:] Kinh tế tầm thấp (Economy of low altitude) đang được nhiều quốc gia coi là không gian tăng trưởng mới. Ở Việt Nam, khái niệm kinh tế tầm thấp đã bắt đầu được chú ý, ông đánh giá thế nào về cơ hội, lợi thế của Việt Nam trong lĩnh vực không gian kinh tế này?

“Tôi cho rằng kinh tế tầm thấp sẽ là một không gian tăng trưởng rất đáng chú ý trong giai đoạn tới. Khi nhắc tới kinh tế tầm thấp, nhiều người thường chỉ nghĩ tới phương tiện bay, nhưng thực tế đây là một hệ sinh thái kinh tế mới, bao gồm thiết bị bay, hạ tầng vận hành, điều hành bay, dữ liệu, phần mềm, dịch vụ nhiệm vụ, bảo trì, đào tạo và các ngành công nghiệp phụ trợ…

Với Việt Nam, cơ hội là rất rõ ràng. Chúng ta có địa hình đa dạng, nhu cầu lớn trong các lĩnh vực như giám sát hạ tầng, nông nghiệp, lâm nghiệp, cứu hộ cứu nạn, an ninh, logistics chuyên dụng và chuyển đổi số tại hiện trường… Đây đều là những lĩnh vực mà UAV có thể tạo ra hiệu quả rõ rệt về chi phí, tốc độ và chất lượng dữ liệu. Việt Nam cũng có lợi thế về nguồn nhân lực kỹ thuật trẻ, khả năng thích ứng công nghệ nhanh và thị trường nội địa đủ lớn trước khi vươn ra bên ngoài.

Tuy nhiên, lợi thế lớn nhất không chỉ nằm ở nhu cầu, mà ở khả năng chúng ta chủ động xây dựng được năng lực công nghệ và hệ sinh thái hỗ trợ. Nếu làm tốt, kinh tế tầm thấp không chỉ tạo ra sản phẩm mới, mà còn tạo ra chuỗi giá trị mới.

Với HTI, chúng tôi không nhìn UAV như một sản phẩm đơn lẻ mà đang phát triển theo hướng hệ thống, tức là kết hợp phương tiện bay, payload, trạm điều khiển, phần mềm quản lý, dữ liệu nhiệm vụ và khả năng tích hợp theo từng bài toán ứng dụng. Đó là lợi thế rất quan trọng, vì thị trường trong tương lai sẽ không chỉ mua một chiếc UAV, mà sẽ cần một giải pháp hoàn chỉnh, vận hành được, bảo trì được và tạo ra giá trị thực tế.”

[PV:] Kinh tế tầm thấp, trong đó lĩnh vực máy bay không người lái (UAV) chiếm vị trí quan trọng, được nhìn nhận là một trong những động lực góp phần vào tăng trưởng kinh tế 2 con số của Việt Nam trong thập kỷ tới. Nếu “đo đếm” bằng dung lượng thị trường, theo ông, lĩnh vực này có quy mô và vai trò như thế nào trong chiến lược phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mà khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính của tăng trưởng?

 “Quy mô kinh tế Việt Nam hiện khoảng hơn 500 tỷ USD, trong khi đến năm 2030, kinh tế tầm thấp mới được dự báo đạt khoảng 10 tỷ USD. Như vậy, tỷ trọng đóng góp trực tiếp của lĩnh vực này vẫn còn khá khiêm tốn.

Tuy nhiên, khi lĩnh vực UAV phát triển sẽ có khả năng kích hoạt và lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khác, nhờ tối ưu hóa nguồn lực, tiết kiệm nhân công và nâng cao năng suất trong hàng loạt ngành nghề. Vì vậy, nếu chỉ nhìn kinh tế tầm thấp như một ngành độc lập, vai trò của có thể chưa thực sự nổi bật. Nhưng nếu đặt trong bức tranh tổng thể, đây lại là một không gian tăng trưởng rất đáng chú ý trong giai đoạn tới.

 Cũng cần lưu ý rằng, kinh tế tầm thấp không chỉ gói gọn trong các phương tiện bay như nhiều người vẫn nghĩ. Đây thực chất là một hệ sinh thái kinh tế mới, bao gồm thiết bị bay, hạ tầng vận hành, hệ thống điều hành bay, dữ liệu, phần mềm, dịch vụ nhiệm vụ, bảo trì, đào tạo và các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan.

 Ví dụ như trong lĩnh vực logistics, đặc biệt tại các khu vực địa hình phức tạp, hiểm trở, lợi thế của UAV càng rõ rệt. Những quãng đường rừng 10 km mất hàng giờ di chuyển bằng phương tiện truyền thống, nhưng với UAV, thời gian có thể rút ngắn xuống chỉ còn vài phút.

Hay với các tòa nhà cao tầng, xe chuyên dụng khó tiếp cận, UAV lại có thể tiếp cận nhanh chóng ở độ cao 30, 50, thậm chí 100 tầng. Từ đó, mở ra khả năng triển khai các giải pháp chữa cháy từ trên cao hoặc hỗ trợ cứu hộ trong những tình huống khẩn cấp.

 UAV có thể tạo ra hiệu quả rõ rệt về chi phí, tốc độ và chất lượng dữ liệu trong rất nhiều lĩnh vực. Việt Nam cũng có lợi thế về nguồn nhân lực kỹ thuật trẻ, khả năng thích ứng công nghệ nhanh. Nếu làm tốt, kinh tế tầm thấp không chỉ tạo ra sản phẩm mới, mà còn tạo ra chuỗi giá trị mới.”

5 NĂM ĐẦU TƯ UAV VẪN CHƯA CÓ LÃI

[PV:] Được biết đến là một trong những doanh nghiệp “dấn thân” khá sớm vào lĩnh vực UAV và hiện nằm trong số ít doanh nghiệp trong nước đang tự sản xuất UAV. Vậy đến nay, HTI đã có lãi trong lĩnh vực UAV chưa?

 “Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu và phát triển máy bay không người lái từ năm 2020. Những ngày ấy, câu chuyện sản xuất máy bay không người lái vẫn còn khá xa vời. Tuy nhiên, may mắn thời điểm đó HTI đang đại diện và phân phối độc quyền cho khá nhiều công ty công nghệ hàng đầu thế giới trong ngành, nhờ đó, đội ngũ có cơ hội được đào tạo, tiếp cận những công nghệ hiện đại từ thiết kế, khí động học, cơ khí, phần mềm cho đến tích hợp cho UAV.

Khi đó cũng một số công ty làm máy bay không người lái, nhưng chủ yếu là các dòng drone phổ thông. HTI không đi theo hướng đó, mà tập trung vào dòng VTOL (máy bay cất hạ cánh thẳng đứng), vì một là muốn khác biệt với thị trường, hai là quyết định cũng xuất phát từ bài toán thực tế.

Nghiên cứu, thử nghiệm mất 3 năm thì ra được sản phẩm. Khi dần làm chủ được công nghệ, làm chủ được khí động học, truyền dẫn tín hiệu, phân tích hình ảnh… lúc đó mới dám thử nghiệm đến các vật liệu như fiber optic hay composite như bây giờ.

Cột mốc quan trọng là khi HTI đưa sản phẩm bay thử với các lực lượng thực thi pháp luật tại Bắc Ninh. UAV đạt cự ly trên 30 km, thời gian bay khoảng 150 phút mà vẫn còn dung lượng pin dự phòng, tín hiệu truyền ổn định và chất lượng hình ảnh tốt. Ban lãnh đạo công ty và anh em R&D (nghiên cứu và phát triển) mới thực sự tự tin với sản phẩm, lúc đó mới dám khẳng định đã làm chủ công nghệ.

Dù vậy, đến thời điểm hiện tại HTI vẫn lỗ. Làm R&D thất bại là nhiều chứ thành công là mấy. Chúng tôi xác định làm R&D thì không thể hoàn vốn nhanh được.”

[PV:] Nhưng chiến lược làm sản phẩm UAV của doanh nghiệp là hướng tới đối tượng khách hàng nào?

“Ngay từ đầu, chúng tôi đã muốn sản xuất UAV để phục vụ cho giám sát, trinh sát, kiểm tra hiện trường và vận hành trong những điều kiện đòi hỏi độ tin cậy cao. Như vậy sẽ cần loại thiết bị có khả năng bay xa, bay cao, thời gian bay dài, đồng thời giám sát và truyền hình ảnh về trụ sở một cách ổn định, bảo mật.

Nhưng thời điểm đó, ở Việt Nam, phổ biến chỉ có các dòng drone, tất nhiên, những thiết bị này không thể đáp ứng yêu cầu vì chỉ bay được 5–6 km, xa lắm thì 10 km. Khi đó, HTI mới quyết định sản xuất Horus, UAV có khả năng bay tới 30–50 km, thời gian bay khoảng 150 phút, tức là 2 tiếng rưỡi và tốc độ có thể lên đến hàng trăm km/h. Rất may khi triển khai bay thử cho các đơn vị thực thi pháp luật thì đều đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ.

Trong quá trình làm, HTI may mắn cũng nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện từ phía cơ quan quản lý, trong đó có Bộ Khoa học và Công nghệ.”

[PV:] Tại triễn lãm Tuần lễ Số quốc tế Việt Nam vào tháng 10/2025, HTI đã mang sản phẩm UAV Trinh sát VTOL Horus P02 bay ở độ cao 200 mét, sử dụng hệ thống AI để phát hiện, ghi hình các mục tiêu chuyển động, truyền hình ảnh độ phân giải cao… ra trình diễn và công bố đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 80%. Vậy hiểu tỷ lệ 80% nội địa hóa ở đây là nằm ở những cấu phần như thế nào? Và ông nghĩ sao về việc Việt Nam có thể tạo ra sản phẩm UAV 100% nội địa hóa?

“Ở đây, nội địa hóa không chỉ được hiểu theo góc nhìn vật tư, mà còn phải nhìn ở góc độ năng lực kỹ thuật, quy trình phát triển và mức độ chủ động trong cải tiến sản phẩm.

Giống như máy bay Boeing có tới cả hàng triệu linh kiện, họ vận hành dựa trên chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng đâu ai nói đó là sản phẩm của quốc gia khác ngoài Mỹ. Vì vậy, làm chủ ở đây là làm chủ phần thiết kế, tích hợp, chế tạo và tối ưu hệ thống tại Việt Nam.

Từ thiết kế tổng thể nền tảng UAV, kết cấu thân vỏ và cơ khí, tích hợp hệ thống, phát triển một phần mềm,… chúng tôi đều đã làm chủ nên hoàn toàn tự tin có thể thiết kế hệ thống đồng bộ theo yêu cầu ứng dụng thực tế, chứ không chỉ lắp ráp từ các mô-đun sẵn có.

Tuy vậy, chúng tôi cũng nhìn nhận rất thực tế rằng, trong chuỗi giá trị UAV hiện nay, vẫn có những phần Việt Nam nói chung và HTI nói riêng còn phụ thuộc vào bên ngoài, đặc biệt là một số linh kiện điện tử, cảm biến chuyên dụng, vật liệu hoặc các cụm linh kiện có hàm lượng công nghệ vi điện tử rất cao. Đây là thách thức chung của hầu hết các doanh nghiệp công nghệ đang phát triển theo hướng làm chủ thiết bị phức tạp.

Chúng tôi đi theo lộ trình rõ ràng: phần nào có thể chủ động thiết kế và sản xuất trong nước thì đẩy mạnh nội địa hóa; phần nào chưa làm được ngay thì chủ động tích hợp, kiểm soát chất lượng và từng bước tìm hướng thay thế.

Tất nhiên, chúng tôi rất mong sẽ sớm có một hệ sinh thái doanh nghiệp cùng hợp tác từ trong nước. Nhất là trong bối cảnh thế giới đang phân mảnh, phân cực mạnh, việc làm chủ sản phẩm và sản xuất trong nước là rất quan trọng. Nếu các doanh nghiệp trong hệ sinh thái phối hợp tốt với nhau thì việc các doanh nghiệp Việt tạo ra sản phẩm 100% nội địa là hoàn toàn khả thi.

Kinh tế tầm thấp thực chất là một hệ sinh thái mới, với tiềm năng rất lớn, nhưng để phát triển cần thời gian, chính sách rõ ràng và sự tham gia đồng bộ của nhiều doanh nghiệp. Về phía HTI, chúng tôi xác định sẽ tiếp tục đầu tư mạnh cho UAV, trong đó có kế hoạch xây dựng nhà máy UAS với tổng vốn hơn 50 triệu USD để sẵn sàng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.”

[PV:] Cụ thể, nhà máy sản xuất UAV của HTI có công suất dự kiến bao nhiêu?

“Khoảng 3.000 UAV mỗi năm, phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Đây là mức tính toán thận trọng. Nếu chúng tôi mở rộng quá nhanh khi thị trường chưa sẵn sàng sẽ gây lãng phí, nhưng nếu không chuẩn bị trước thì khi cơ hội đến lại khó đáp ứng kịp.

Trong 5–10 năm tới, UAV chắc chắn sẽ là lĩnh vực mà HTI đầu tư nhiều nguồn lực nhất vì đã nhìn thấy rõ cơ hội và tiềm năng của thị trường này. Nhưng đây cũng là lĩnh vực cần đầu tư rất quyết liệt, nguồn lực lớn. Thế nên chúng tôi cũng đã xác định chấp nhận lỗ trong thời gian dài và đầu tư hết năng lực của mình.

Để phát triển bền vững, doanh nghiệp không thể đi một mình. Ngành này cần một hệ sinh thái đủ mạnh, từ linh kiện, vật liệu đến các hệ thống phụ trợ.”

CẦN KHUNG CHÍNH SÁCH RÕ RÀNG, ỔN ĐỊNH VÀ CÓ KHẢ NĂNG DỰ BÁO

[PV:] Có thực tế, thời gian qua, khi các cuộc xung đột xảy ra, người ta bắt đầu nhìn nhận UAV không còn chỉ là một phần của kinh tế tầm thấp mà đã trở thành yếu tố then chốt trong năng lực phòng vệ hiện đại. Ông nghĩ sao về hướng đi này?

“Tại các triển lãm quốc phòng gần đây, sản phẩm vũ khí truyền thống như súng ống không còn là trọng tâm nữa, thay vào đó, UAV trinh sát, UAV cảm tử, UAV tàng hình, các hệ thống chống radar… lại nhận được sự quan tâm rất lớn.

UAV về bản chất là một nền tảng mang phụ tải (payload), thế nên khi đã làm chủ được công nghệ thì mang gì là do mình quyết định: có thể là camera, radar, cảm biến, hoặc các thiết bị khác tùy theo mục đích sử dụng.

Do vậy, làm chủ công nghệ UAV chính là tự chủ không gian, tự chủ về năng lực quốc phòng, gắn với tinh thần tự lực, tự cường của đất nước. Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng và mình cần phải làm chủ công nghệ này.

Nhu cầu trong lĩnh vực quốc phòng sẽ rất lớn, thậm chí khó có thể định lượng cụ thể, và đòi hỏi sự chuẩn bị từ sớm về năng lực công nghệ. Các quốc gia trên thế giới đang đi rất nhanh, rất quyết liệt trong lĩnh vực này. Nếu Việt Nam chậm chân, nguy cơ tụt hậu là rất rõ ràng. Tuy nhiên, để bứt tốc nhanh cũng không đơn giản, vì còn nhiều hạn chế về công nghệ, vật liệu, nhân lực. Do đó, rất cần một cú hích từ chính sách cho thị trường.”

[PV:] Cụ thể là những chính sách nào, thưa ông?

“UAV là lĩnh vực công nghệ tổng hợp, liên quan đến quản lý vùng trời, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, dữ liệu, sản xuất công nghiệp, chuỗi cung ứng, đào tạo nhân lực và cả thị trường ứng dụng. Vì vậy, muốn lĩnh vực này thực sự đóng góp vào tăng trưởng quốc gia, chúng ta cần một hệ sinh thái phát triển đồng bộ.

Theo tôi, thứ nhất là cần một khung chính sách rõ ràng, ổn định và có khả năng dự báo. Doanh nghiệp chỉ có thể đầu tư dài hạn khi biết sân chơi sẽ vận hành như thế nào, quy trình thử nghiệm, cấp phép, khai thác và thương mại hóa ra sao. Một lĩnh vực mới mà quy định còn phân tán hoặc thay đổi khó lường thì rất khó để hình thành đầu tư lớn.

Thứ hai là cần cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các công nghệ và mô hình khai thác mới. UAV không thể phát triển nếu doanh nghiệp chỉ nghiên cứu trong phòng lab mà không có điều kiện bay thử, kiểm chứng, tích hợp và đánh giá theo kịch bản thực tế. Cần có không gian thử nghiệm, cơ chế sandbox và hành lang pháp lý đủ linh hoạt để doanh nghiệp đổi mới nhưng vẫn bảo đảm an toàn và quản lý nhà nước.

Thứ ba là cần thị trường dẫn dắt ban đầu. Với những công nghệ chiến lược, thị trường ban đầu rất quan trọng. Nếu có những chương trình đặt hàng, thử nghiệm hoặc ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước ở các bài toán phù hợp, doanh nghiệp sẽ có cơ hội hoàn thiện công nghệ, nâng chất lượng và hình thành năng lực cạnh tranh thực sự.

Thứ tư là phải phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực. Làm UAV không chỉ cần kỹ sư hàng không, mà còn cần cơ khí chính xác, điện tử, điều khiển, phần mềm, dữ liệu, vật liệu, sản xuất thử nghiệm, kiểm định và dịch vụ sau bán hàng. Thực tế từ phía HTI, thời gian tới, nhu cầu nhân lực của chúng tôi sẽ rất lớn. Trong khi, hiện nay, việc tuyển kỹ sư UAV không hề dễ, phần lớn vẫn phải tự đào tạo, tự nghiên cứu vì chưa có nhiều chương trình đào tạo bài bản.

Thứ năm, nên nhìn UAV không chỉ như một sản phẩm công nghệ, mà như một ngành kinh tế mới. Khi tiếp cận như vậy, chúng ta sẽ không chỉ nói về chiếc máy bay, mà sẽ nói về chuỗi giá trị, về dữ liệu, dịch vụ, hạ tầng và năng lực công nghiệp quốc gia. Nếu có cách tiếp cận đó, UAV hoàn toàn có thể trở thành một lĩnh vực đóng góp thực chất cho tăng trưởng trong giai đoạn tới.”

[PV:] Trong số 5 chính sách mà ông kiến nghị trên, nếu được chọn chính sách cần kíp và có khả năng lan tỏa, tác động tức thì đến các doanh nghiệp UAV của Việt Nam, trong đó có HTI, theo ông là gì?

 “Với doanh nghiệp, cơ chế đặt hàng sản xuất từ sớm có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên, trước mắt, cấp thiết hơn có lẽ là sớm hình thành các khu vực thử nghiệm bay cho UAV. Câu chuyện này đã được nhắc đến nhiều, nhưng đến nay vẫn chưa có quy hoạch cụ thể. Thực tế, nhiều khi chúng tôi phải di chuyển rất xa mới có thể tổ chức bay thử, gây ra không ít khó khăn trong quá trình nghiên cứu và phát triển.

Ngoài ra, cũng cần có chính sách hỗ trợ đào tạo từ các trường, các viện để bổ sung nguồn nhân lực cho ngành. Chúng ta đang nhắc đến động lực tăng trưởng từ kinh tế tầm thấp, nhưng lực lượng kỹ sư, chuyên gia cho lĩnh vực này vẫn còn thiếu. Nếu lĩnh vực này phát triển quá nhanh mà lại không có đủ nhân lực thì cũng khó triển khai. Tóm lại, đây là thời điểm doanh nghiệp công nghệ rất cần được chính sách “nuôi dưỡng”. Và Nghị quyết 57 là sự động viên rất lớn đối HTI Group nói riêng và với các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam nói chung.”

[PV:] Cảm ơn ông!

Thực hiện: Ngô Huyền – Thủy Diệu – Báo VnEconomy

Share
Tư vấn sản phẩm: 098 123 0055